Năm 1918, một nhà thực vật học người Pháp đi qua Khe Sanh và dừng lại vì tầng đất đỏ ở đây. Tám năm sau ông quay lại và lập đồn điền cà phê đầu tiên của vùng.
Một trăm năm sau, trên chính dải đất ấy, cà phê mít Liberica của Hướng Phùng đi tới bục trao giải Đông Nam Á. Ở giữa hai mốc đó là chiến tranh, là đứt gãy, và là một cuộc hồi sinh diễn ra chậm.
Vùng này ở đâu, và có gì
Hướng Phùng và Khe Sanh nằm dưới chân Trường Sơn, thuộc vùng Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị. Nền đất đỏ bazan giàu khoáng, độ cao khoảng 600 đến 700 mét so với mực nước biển, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn.
Đó là tổ hợp điều kiện mà cây cà phê cần, và nó đã được nhận ra từ một thế kỷ trước.
| Chỉ số của xã Hướng Phùng | Con số |
|---|---|
| Tổng diện tích cà phê | Hơn 2.100 hecta |
| Diện tích đang trong thời kỳ kinh doanh | Hơn 1.900 hecta |
| Số thôn bản có cây cà phê | 19 trên 24 |
| Số hộ gắn sinh kế với cà phê | Hơn 1.300 hộ |
| Bình quân diện tích mỗi hộ | Hơn 1,6 hecta |
| Năng suất bình quân toàn xã | 8 - 9 tấn quả tươi mỗi hecta mỗi năm |
Đây là vùng trồng cà phê tập trung lớn nhất tỉnh Quảng Trị. Người trồng gồm đồng bào Bru Vân Kiều, Tà Ôi và người Kinh, phần lớn canh tác Arabica Catimor, một phần diện tích là Liberica.
Năm 1926 và Eugène Poilane
Eugène Poilane sống từ năm 1888 đến năm 1964, là nhà thực vật học người Pháp dành hơn bốn mươi năm nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương và thu thập trên bốn mươi nghìn mẫu thực vật. Ông đến Khe Sanh lần đầu năm 1918.
Năm 1926 ông quay lại và lập đồn điền cà phê đầu tiên tại Khe Sanh. Điều kiện ông nhìn ra khi ấy vẫn là điều kiện của vùng này hôm nay, độ cao khoảng 500 đến 680 mét, khí hậu mát, biên độ nhiệt ngày đêm lớn, đất bazan giàu khoáng.
Một đính chính cần thiết
Nhiều bài viết đang lưu hành nói rằng Poilane mang hạt giống Liberica đến Khe Sanh năm 1926. Các nguồn báo chí và tư liệu lịch sử đều ghi nhận giống được trồng khi ấy là Arabica, cụ thể là giống Chiari thuộc nhóm Typica, không phải Liberica.
Đính chính này không làm giảm giá trị câu chuyện cà phê mít. Nó chỉ có nghĩa là Liberica ở Quảng Trị có một lịch sử riêng, chưa được ghi chép đầy đủ. Đó là một khoảng trống đáng nghiên cứu, không phải một khoảng trống nên lấp bằng phỏng đoán.
Năm 2026 đánh dấu tròn một trăm năm mốc 1926. Nhân dịp này, các nhà khoa học đã đặt tên Poilane cho một loài thực vật mới phát hiện tại vùng núi đá vôi Quảng Trị.
Đứt gãy
Chưa đầy bốn thập niên sau khi những cây cà phê đầu tiên bén rễ, chiến tranh biến Khe Sanh thành một trong những chiến trường ác liệt nhất trên tuyến Đường 9. Các đồn điền bị xoá gần như hoàn toàn. Có thời điểm người ta tưởng hành trình bắt đầu từ năm 1926 đã khép lại vĩnh viễn.
Việc khôi phục diễn ra chậm và qua nhiều giai đoạn. Arabica Catimor, thân thấp, kháng gỉ sắt, chu kỳ ngắn, trở thành lựa chọn chủ lực và định hình diện mạo Hướng Phùng như hôm nay.
Cà phê mít, vốn không nằm trong bất kỳ chương trình phát triển nào, ở lại bìa rẫy. Người ta trồng nó để chắn gió, che bóng cho những lô Arabica. Cho đến khi có người quay lại nhìn nó nghiêm túc.
Vì sao cả một vùng cùng đi lên, chứ không phải một nông trại
Điều đáng chú ý nhất ở Hướng Phùng không phải một cái tên, mà là việc nhiều cái tên cùng xuất hiện.
- Vườn Madam Hương ở Phùng Lâm, giải Bạch kim Đông Nam Á 2024 hạng mục Liberica.
- Happy Tree ở thôn Chênh Vênh, giải Ba Đông Nam Á 2025.
- Pun Coffee, nhiều lần đứng đầu cuộc thi Cà phê Đặc sản Việt Nam ở dòng Arabica, được Viện Chất lượng Cà phê xếp hạng thứ 5 thế giới năm 2023, và là đơn vị thành lập Nhóm cà phê đặc sản Quảng Trị rồi mời chuyên gia về đào tạo cho nông dân trong vùng.
- Cùng với đó là An Việt Farm, Hoàng Luận, cà phê của đồng bào Bru Vân Kiều, và hơn ba mươi doanh nghiệp, đại lý, hợp tác xã thu gom trên địa bàn.
Một nông hộ thắng giải khu vực là một câu chuyện hay. Ba, bốn nông hộ cùng một xã cùng đứng trong top khu vực ở cùng một hạng mục, hai năm liên tiếp, là một chỉ dấu khác hẳn.
Chuỗi nhân quả ở đây khá rõ. Chuyên gia được mời về dạy tại chỗ, kỹ thuật lan trong nhóm liên kết, nhiều hộ cùng nâng chuẩn thu hái và sơ chế, nhiều mẫu cùng đạt điểm cao, rồi giá của cả vùng được định lại. Đó là lý do mô hình Hướng Phùng đáng được nhìn như một trường hợp phát triển vùng nguyên liệu, chứ không chỉ như một câu chuyện thương hiệu.
Sáu hecta nằm ở đâu trong bức tranh đó
Vườn của Nguyễn Văn Quê ở thôn Mã Lai Pun rộng 6 hecta, trong khi bình quân toàn xã là hơn 1,6 hecta mỗi hộ. Tức gần gấp bốn lần mức bình quân.
Con số ấy quan trọng hơn vẻ ngoài của nó. Quy mô đó đủ lớn để tách lô, thử nhiều mẻ sơ chế song song trong cùng một vụ, so kết quả rồi giữ lại cách làm tốt hơn. Đây là điều kiện tiên quyết để làm cà phê đặc sản một cách có hệ thống thay vì làm may rủi.
Nhưng 6 hecta vẫn là quy mô nông hộ, không phải trang trại công nghiệp có phòng thí nghiệm riêng. Một mẻ hỏng là mất tiền thật, không có bộ đệm nào đỡ. Làm đặc sản ở quy mô này nghĩa là chịu rủi ro bằng chính vốn của mình trong lúc học nghề.
Mô hình này có nhân rộng được không
Câu trả lời thành thật là không tự nhân rộng được. Khoảng cách giữa cà phê mít thương mại và cà phê mít đặc sản không nằm ở cây, nó nằm ở công, ở kiến thức và ở rủi ro.
Nó chỉ nhân rộng khi có ba thứ đi cùng nhau. Đào tạo kỹ thuật đến tận hộ. Đầu ra cam kết bao tiêu với giá cao hơn thị trường. Và đủ vốn để chịu được một vụ hỏng trong lúc học nghề. Thiếu một trong ba, người nông dân sẽ quay về cách làm cũ, và điều đó hoàn toàn hợp lý.
Đọc tiếp
Toàn cảnh cà phê Liberica Khe Sanh từ cây tới tách, và kỹ thuật lên men yếm khí 90 đến 200 giờ đã làm nên khác biệt của vùng này. Cà phê từ chính vườn 6 hecta ấy ở trang sản phẩm.
